KỶ LUẬT KHEN THƯỞNG

By 11/12/2017Uncategorized

Một bài viết tổng hợp các quan điểm Khoa học tâm lý và thực tiễn về vai trò và kỹ thuật khen thưởng của người chăm sóc/giáo dục đối với sự học tập và phát triển của trẻ nhỏ.

– Con thật thông minh!
– Ôi, con của Mẹ giỏi quá!
– Con cô thật là một em bé ngoan đấy!
– Hôm nay con đã đọc được nhiều hơn hôm qua 3 trang sách, thật là tuyệt vời đó con yêu! Mẹ tin rằng ngày mai nếu con ăn cơm và tắm xong trước 7h tối, con sẽ có thêm 1h để đọc, lúc đó con còn có thể đọc được nhiều hơn nữa đấy nhé!
……………………….

“ Một nén tiền công không bằng một đồng tiền thưởng” . Trong con người luôn tồn tại 2 dạng động lực song song đó là Động lực nội tại  và Động lực bên ngoài, lời khen thưởng lâu nay được hoặc bị xem như 1 cách đánh giá tập trung nhiều vào Động lực bên ngoài của cá nhân, không đánh động và kích thích Động lực nội tại bên trong. Điều này đúng hay sai? Và nếu sai thì làm sao chúng ta chọn ra những chiến lược khen thưởng đúng cách đối với hoạt động học tập của trẻ?

I. Lý thuyết về Khen ngợi – Phần thưởng và trừng phạt.
1. Lý thuyết phát triển đạo đức
Lý thuyết phát triển đạo đức cho rằng lập luận luân lý, hoặc cách mà các cá nhân suy nghĩ về các tình huống đạo đức, tiến bộ thông qua sự trưởng thành nhận thức, kinh nghiệm xã hội, và sự hòa nhập các giá trị xã hội (Eisenberg và cộng sự, 2006. Kohlberg, 1984). Trong quá trình phát triển, trẻ em và thanh thiếu niên dần dần xác định, tích hợp và tích hợp kiến ​​thức xã hội và đạo đức bên ngoài vào hệ thống giá trị của chính họ và sử dụng các giá trị này để hướng dẫn lý luận và tự điều chỉnh hành vi của họ (Grolnick, Deci, & Ryan , 1997). Trong các lớp tiểu học ban đầu, hành vi của trẻ em được thúc đẩy chủ yếu bằng cách tìm kiếm phần thưởng hoặc sự chú ý và tránh những hậu quả trừng phạt.

2. Lý thuyết tự xác định Trong việc lý thuyết hóa động lực xã hội nội tại phát triển và duy trì
Deci và Ryan (2008a, 2008b) lập luận rằng các giá trị đạo đức và xã hội bên ngoài trở nên nổi bật thông qua quá trình tăng trưởng. Mức độ kiến ​​thức được nội bộ hoá gắn liền với sự khác biệt trong nhận thức của một người về sự tự quyết định hoặc kiểm soát quyết định, hành vi và môi trường của chính mình. Với sự liên tục, Lý trí phản ánh bốn mức độ nội lực và tự điều chỉnh. Hai cấp độ đầu tiên phản ánh động lực bên ngoài, với những cá nhân tham gia vào hành vi xã hội để đạt được phần thưởng và tránh hậu quả trừng phạt. Mức độ nội lực hóa thứ ba và thứ tư phản ánh lý do được quy định một cách tự động hoặc tự chủ. Các cá nhân tham gia vào các hành vi xã hội xã hội do quan tâm cá nhân cho người khác và cho các giá trị đạo đức. Lý thuyết tự xác định giả định rằng khi các cá nhân tăng cường sức mạnh mà họ có động lực thúc đẩy xã hội nội tại, họ sẽ giảm sức mạnh mà họ có động cơ xã hội bên ngoài

II. Tại sao phải khen thưởng và khen ngợi trẻ?
Một số nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: Định hướng động lực của trẻ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường như loại khen ngợi mà trẻ em trải nghiệm (Cimpian, Arce, Markman, & Dweck, 2007; Kamins & Dweck, 1999; Mueller & Dweck, 1998; White, 1959). Cụ thể, các loại khen ngợi khác nhau cung cấp thông tin khác nhau về những gì có ý nghĩa trong việc đạt được mục tiêu, và do đó dẫn đến các kết quả động lực khác nhau (ví dụ như Cimpian và cộng sự, 2007).
Chúng ta không thể bác bỏ rằng động cơ làm việc của một cá nhân luôn có sự xuất phát từ 2 phía song song của nguồn động lực: Chúng ta làm việc bởi điều đó xuất phát từ nhu cầu, sở thích, sự tìm kiếm – tò mò cho câu trả lời xuất phát từ Động lực nội tại của bản thân và cùng với đó chúng ta tìm kiếm sự ghi nhận, ủng hộ, đồng cảm và đánh giá, khen ngợi từ cộng đồng.
Đối với trẻ nhỏ, việc xác định được động lực nội tại là điều không hề dễ dàng nếu không muốn nói là khó khăn. Việc khen ngợi trẻ thích hợp cũng được xem như là 1 phương án đề bắc cây cầu từ Động lực bên ngoài đi vào vùng Động lực nội tại của Con.
Sẽ như thế nào nếu một đứa trẻ lớn lên trong mội môi trường hoàn toàn thiếu vắng sự ghi nhận và khen ngợi?
III. Khen thưởng trẻ thế nào là đúng?
Một nghiên cứu của George G. Bear và cộng sự tới từ School of Education, University of Delaware, Newark, Delaware 19716, USA đã chỉ ra rằng: những phần thưởng hữu hình có thể gây hại cho động cơ nội tại. Điều này đặc biệt đúng khi các phần thưởng được sử dụng theo cách kiểm soát để tạo ra sự tuân thủ (ví dụ: “Nếu bạn cư xử, bạn sẽ kiếm được một vé”)
Tiếp theo những lời khen ngợi không khuyến khích những hành vi làm chủ và khen ngợi một cách chung chung sẽ thúc đẩy những hành vi bất lực (Cimpian et al., 2007; Kamins & Dweck, 1999; Mueller & Dweck, 1998). Tức là sự khen ngợi không tập trung vào quá trình thực hiện hành vi của trẻ, mà tập trung vào kết quả hoạt động hoặc tố chất.

IV. Một số gợi ý cho việc Khen thưởng trẻ.
1. Khen ngợi tập trung vào quá trình thực hiện hành động.
Ghi nhận hành động – Phân tích cách thực hiện – Tán dương sự phát triển, tăng trưởng – Lập kế hoạch cho tương lai.
Thay vì việc chúng ta khen trẻ bằng những mẫu câu rất chung chung rằng: Con đã làm thật tốt; hoặc: Hôm nay con đã làm rất tốt, thậm chí là “ Cô ghi nhận sự cố gắng của con”…..mang tới cho trẻ sự hoang mang, và không có tính gợi mở. Chúng ta có thể thay thế bằng 1 số chiến lược theo mô hình bên trên như sau:
Phụ huynh có thể dung 1 số mẫu câu/kỹ thuật sau để tham khảo việc khen ngợi bé.
– Việc làm hôm nay của con đã được hoàn thành tới mức độ nào? Cảm giác vui sướng/hạnh phúc của Bố/Mẹ; Thầy/ cô khi chứng kiến điều đó?
– Việc làm hôm nay của Con đã tiến bộ như thế nào với hoạt động tương tự ở lần trước đó?
– Thảo luận cùng trẻ: Bằng cách nào Con đã đạt được kết quả tốt đẹp như thế này?
– Con đã vượt qua những khó khăn nào để đạt tới mục tiêu này? Tán dương các kỹ thuật mà con đã sử dụng.
– Thảo luận cùng trẻ: Làm thế nào để có thể phát triển hơn nữa thành tích của Con ở những lần thực hiện sau?
– Trải nghiệm cảm giác của trẻ sau khi hoàn thành xong mục tiêu? Có sự khác biệt với những lần thực hiện trước không?
– Đặt niềm tin ở sự cố gắng của trẻ với những năng lực mà con có; không đề cao một tố chất chung chung ( Thông minh, xinh đẹp…)

2. Sự khen ngợi phải được đặt trong mối quan hệ với bối cảnh Văn hoá cộng đồng dân cư – Văn hoá gia đình/lớp học và nét riêng biệt của từng đứa trẻ.
Một nghiên cứu của Shui-fong Lam và cộng sự tại The University of Hong Kong đã cho thấy: “..Mặc dù có ý định tốt, nhưng khen ngợi nỗ lực có thể đóng vai trò là một nhân tố có khả năng thấp đối với những người tin vào mối quan hệ nghịch giữa nỗ lực và khả năng. Niềm tin này có thể gây bất lợi cho trẻ em Trung Quốc, những người lớn lên trong một nền văn hoá chú trọng đến nỗ lực. Các nghiên cứu trước đây (ví dụ, Stevenson & Stigler, 1992) đã chỉ ra rằng cha mẹ và trẻ em Trung Quốc đánh giá thành tích học tập dựa trên nỗ lực . Nếu nỗ lực cao ngụ ý khả năng thấp, khen ngợi nỗ lực đặc biệt có hại cho trẻ em Trung Quốc. Hong (2001) đã lập luận rằng sự thừa nhận nỗ lực có thể không phải là một lời chúc cho trẻ em Trung Quốc nếu họ tin vào quy luật đảo ngược của mối quan hệ khả năng-nỗ lực.
Chúng ta thấy rằng: Sự áp dụng bất kỳ một phương pháp nào đó đều phải tính đến yếu tố Môi trường văn hoá của cộng đồng nơi trẻ đang sinh sống, chúng ta rất khó để dùng những giá trị nghịch đảo với niềm tin văn hoá, thay vào đó sự linh hoạt được cho là yếu tố quan trọng để áp dụng kỹ thuật Khen thưởng với trẻ.
Cũng cần phải tính đến cá tính riêng biệt của từng em bé: Có những em bé rất thích được khen ngợi bằng cách ghi nhận kết quả trước rồi mới phân tích quá trình; hoặc ngược lại. Nếu chúng ta không nắm rõ nét riêng biệt này, quá trình khen ngợi có thể bị kém hiệu quả.
Cùng với đó là một mối quan tâm tới từ phía Phụ huynh và Giáo viên như: Liệu có nên để một người với tính cách nóng nảy hoặc Khí chất yếu thực hiện công tác khen thưởng trẻ? Sự phân công như thế nào là hợp lý cho các Bố mẹ và GV trong quá trình khen thưởng trẻ?

3. Đa dạng hoạt động khen ngợi về thời gian – cách thức.
Nhà tâm lý học B. Skinner đã chỉ ra rằng: Nếu một đứa trẻ được khen mỗi lần nó nói cảm ơn, thì lời khen chẳng mấy chốc mất đi giá trị. Trong cả 2 trường hợp, hành vi yếu đi theo thời gian và biến mất. Những phát hiện từ thí nghiệm với động vật dẫn B.Skinner tới 4 loại sơ đồ củng cố hành vi, dùng câu please làm ví dụ có thể thấy rằng:

* Khen thưởng liên tục: Khen mỗi lần trẻ nói Please
– Hiệu quả: Thấp/vừa

* Khen theo tỷ lệ cố định: Khen cố định ở lần thứ 4 và 6
– Hiệu quả: Thấp/vừa

* Khen theo quãng cố định: Khen mỗi khi trẻ nói Please theo 1 thời gian cố định ( 10 phút )
– Hiệu quả: Thấp/vừa

* Khen ngẫu nhiên: Khen không theo mẫu nào cả: Ví dụ, hôm nay khen ở lần thứ 3 trẻ nói Please, ngày mai khen ở lần thứ 6….
– Hiệu quả: Vừa/cao.

( Trích “ Những lý thuyết học tập của trẻ em” )

Từ những mô hình trên có thể thấy rằng một khi hành vi được thiết lập, tưởng thưởng được ban theo một sơ đồ cách quãng và thay đổi có hiệu quả cao nhất. Củng cố liên tục có thể dùng ở đầu quá trình, củng cố cách quãng và thay đổi có tác dụng lâu dài lên hành vi.

Tiếp đó sự khen thưởng cần được đa dạng về cách thức sử dụng kỹ thuật khen ngợi dựa vào việc có thể tráo đổi vị trí thứ tự của mô hình khen thưởng; sử dụng các mẫu câu khác nhau cho từng lần khen thưởng; thay đổi hoạt động , lĩnh vực mà trẻ nhận được sự khen thưởng; thay đổi phần quà ( nếu có ) mà trẻ nhận được; thay đổi người giữ nhiệm vụ khen thưởng trẻ…..

4. Sự khen thưởng phải cụ thể, không mang tính mơ hồ.

Chúng ta nên nhớ rằng, đối tượng chúng ta thực hiện hành vi Khen thưởng là trẻ em, nhất là đối với học sinh Mầm non trong độ tuổi từ 2 – 6, năng lực đồng cảm và thấu hiểu, cũng như trí tuệ cảm xúc của trẻ là chưa hoàn thiện để có thể nhìn từ những ánh mắt – biểu cảm khuôn mặt của chúng ta mà đoán ra rằng ta đang khen ngợi trẻ hay ghi nhận trẻ; muốn giúp đỡ trẻ hay kỷ luật trẻ. Những hành động không rõ ràng từ phía phụ huynh và GV sẽ chỉ làm cho con trở nên hoang mang và đặt con vào trạng thái nghi ngờ, thiếu sự tin tưởng.

Không thể trách một em bé rằng: Tại sao Mẹ yêu con mà con không yêu mẹ? Trong khi chúng ta hang ngày không hề nói với Con một câu thể hiện rằng chúng ta yêu trẻ như thế nào.
Ánh mắt, nụ cười thôi là không đủ để truyền tải thông điệp giữa người lớn với trẻ. Vì vậy sự khen ngợi phải được thể hiện ra bằng lời nói kết hợp với kế hoạch hành động cụ thể.

 

Nguồn: Sưu tập

Leave a Reply